Gỡ "nút thắt" con giống

Gỡ "nút thắt" con giống PDF In Email
Viết bởi vtk   
Thứ năm, 25 Tháng 2 2016 07:51

Còn nhiều bất cập

Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Vang Chủ Tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, những năm trước đây, để cải thiện chất lượng chăn nuôi, nghành chăn nuôi Việt Nam đã nhập nhiều giống gia súc, tạo ưu thế lai. Tuy nhiên, sau nhiều năm, ưu thế lai đã không như mong đợi ban đầu. Vì thế, sản lượng ngành chăn nuôi tăng là nhờ tăng tổng đàn chứ không phải tăng trọng lượng từ con giống.

Có thể thấy, một trong những điểm yếu của nghành chăn nuôi Việt Nam lâu nay vẫn là con giống. Đơn cử, giống bò Việt Nam trọng lượng lớn nhất chỉ khoảng 350kg/con, trong khi giống Úc 500-550kg/con. Chính vì thế, có công ty nhập bò Úc khối lượng khoảng 300kg về Việt Nam vỗ béo để đạt trọng lượng trên 500kg bán ra thị trường. Đây là cách làm của những doanh nghiệp nhanh nhạy nắm bắt thị trường, nhằm đáp ứng thị hiếu thích bò Úc của người tiêu dùng trong nước.

Theo bộ NN&PTNT, mỗi năm ngành chăn nuôi tiêu tốn khoảng 50 tỉ đồng để bảo tồn, phát triển các giống gia súc, gia cầm bản địa. Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát, trước mắt ngành khoa học lai tạo giống của Việt Nam chưa ngang bằng với thế giới và trong khi Việt Nam có những đề án nghiên cứu lai tạo những giống vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt thì các trường đại học, viện nghiên cứu trên thế giới cũng làm điều tương tự nhưng chẳng có gì chắc chắn Việt Nam sẽ làm tốt hơn. Vì thế, để cải thiện năng suất chăn nuôi, Việt Nam cần nhập khẩu những giống gia súc, gia cầm chất lượng tốt, lớn nhanh; chỉ cần dùng lượng thức ăn chăn nuôi như lâu nay vẫn có thể nâng cao được sản lượng, tức giảm được chi phí giá thành. Đó là vấn đề của cơ quan quản lý, còn thực tế nhiều công ty nhìn thấy điểm yếu này nên đã ăn nên làm ra nhờ bán con giống gia súc, gia cầm.

Cần có những bước đi phù hợp

Không chỉ với bò, lợn mà ngay với gia cầm (chủ yếu là gà), vốn là thế mạnh của ngành chăn nuôi nước ta cũng đang rất cần có những bước đi phù hợp.

Hiện thị trường chăn nuôi gia cầm Việt Nam đã bắt đầu hình thành nên những phân khúc rất rõ nét. Theo đó, chiếm khoảng 30% trên tổng đàn gia cầm là giống gà công nghiệp lông trắng, chiếm 50% là các giống gà ta lai có chất lượng năng suất cao do kết hợp được nhiều tính năng ưu việt nhờ ứng dụng các ưu thế lai và phần còn lại là những giống gà truyền thống, bản địa đặc thù vùng miền của Việt Nam như: Đông Tảo, gà Hồ, gà H’Mong, gà Mía, gà Ri thuần,….

Nếu trong lĩnh vực con giống gà lông trắng là áp đảo của các doanh nhiệp nước ngoài (FDI), thì trong phân khúc gà ta lai chứng kiến sự thống trị của các doanh nghiệp nội. Đặc biệt là các doanh nghiệp giống: Công ty TNHH Gà giống Dabaco, Công ty TNHH Giống gia cầm Minh Dư, Công ty TNHH Giống gia cầm Cao Khanh,… và thêm một số Trung tâm trực thuộc Viện Chăn nuôi.

Riêng phân khúc gà bản địa hiện nay chủ yếu do các lò ấp thủ công theo quy mô hộ gia đình cung ứng nên có nhược điểm chất lượng giống không đồng đều, việc tuân thủ các quy trình tiêm vaccin chưa được đảm bảo nên độ hao hụt rất lớn, tỉ lệ mắc bệnh dịch cao.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê và Cục Chăn nuôi, với việc áp dụng công nghệ nhân giống theo hệ thống giống 3 cấp ông bà, bố mẹ, thương phẩm các giống gà thịt lông trắng (broiler), gà lông màu và gà chuyên trứng tốt nhất ở thế giới đều có ở Việt Nam. Tuy nhiên, các giống gà truyền thống nổi tiếng thơm ngon, hợp khẩu vị người Việt Nam và con lai của chúng vẫn chiếm chủ yếu thị trường này. PGS.TS Nguyễn Đăng Vang cho biết thêm.

Trong những năm qua, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn giống từ nước ngoài, đặc biệt là các giống gà công nghiệp lông trắng, giống vịt chất lượng cao,… Do phụ thuộc nước ngoài về nhập khẩu con giống nên chúng ta bị động trong sản xuất. Bên cạnh đó, giá sản xuất con giống ở nước ta sẽ bị đội lên, cao hơn các nước trong khu vực từ 10-15%.

Để giải quyết vấn đề, riêng với gia cầm: đối với gà công nghiệp vẫn tiếp tục nhập khẩu vì chọn tạo trong nước không thể cạnh tranh được; riêng với các giống gà lông màu, thả vườn thì phải định hướng chọn tạo trong nước. Đặc biệt là những dòng sản phẩm chất lượng cao vì hiện tỷ trọng gà lông màu và gà thả vườn chất lượng cao chiếm khoảng 70% trong sản xuất (ước tính giá trị khoảng trên dưới 30.000 – 35.000 tỷ đồng). Vì vậy, nhà nước cần khuyến khích các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp tập trung nghiên cứu chọn tạo các giống gà thả vườn chất lượng cao trên cơ sở các nguồn gen của giống bản địa và các giống nhập khẩu để tạo ra các tổ hợp lai, các con giống đáp ứng được nhu cầu của sản xuất trước mắt cũng như lâu dài. TS Nguyễn Tanh Sơn cho biết.

Theo Tạp chí Chăn Nuôi Việt Nam